Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

Nửa khuya

Cô tôi mất tuần rồi, đám ma cô tôi anh Bảy từ quê xuống, tụng kinh siêu thoát cho cô tôi, đã hơn hai mươi năm tôi mới gặp lại anh Bảy và tôi kinh ngạc thấy anh trong một ông thày chùa nâu sồng. Anh tôi –là con bác Ba tôi- cũng đã gần bảy mươi nhưng lưng vẫn thẳng, đôi vai mỏng và cổ tay lỏng lẻo chuỗi tràng hạt trôi lần qua câu tụng . Tôi quỳ bái theo bài kinh, ráng lắng nghe tiếng anh tụng lầm rầm theo tiếng tụng vang vang của sư thày chủ việc.

Tôi gắng nhìn ra anh Bảy của những năm xưa, khi anh là tài xế xe bồn chở xăng – nhà nội tôi có một cây xăng gần chợ thị xã- anh vẫn đón chị em tôi về nhà nội trên cái xe xăng dềnh dàng đó, cabin xe rộng đủ chỗ cho hai chị em tôi thêm chú tài phụ. Tôi nhớ một điều là xe luôn luôn, luôn luôn chạy trong giác khuya về sáng. Cũng tầm như khuya nay khi chúng tôi quỳ trước hàng cô tôi, nghe tiếng mõ âm âm trong màn đêm dày chưa rã. Tôi tưởng chừng như đang rùng rình trên cabin, ngó trời khuya nhòe nét qua kính xe và những tiệm cà phê phập phừng ánh lửa bên đường.

Không bao giờ tôi quên những chuyến theo xe anh tôi từ Sài gòn về quê rồi từ quê xuống Sài gòn, dù chặng nhớ là hai mươi năm một. Ngày đó nhà nội tôi là nơi gia đình lớn chúng tôi nắm nuối tình ruột thịt, mấy đứa nhỏ học dưới Sài gòn, các cô tôi buôn bán làm ăn, các chú các bác tôi “làm việc lớn” … đều dành dụm thì giờ về nhà nội. Giỗ tết đã đành, những ngày cuối tuần mà tiện dịp anh Bảy xuống thành phố chị em tôi cũng thức từ nửa khuya ra bùng binh chờ đón, rồi mấy bữa sau lại cùng xe trở lại Sài gòn.

Chuyến về muộn hơn nên đường rộn ràng pha lõang cảm giác, không có gì đáng nhớ, chuyến xuống lại Sài gòn mới thực in dấu không phai nơi tôi. Thường chừng canh hai, khi gà eo óc gáy là cô tôi thức hai chị em dậy, miệt núi miền Đông trời lạnh, thành ra khóac mãi lên ký ức là tấm áo len đan hoa cúc cô tôi đã sắp sẵn, nhớ đến chuyến xe đêm là tôi nhớ tấm áo đan hoa cúc đó, hai chị em hai cái áo giống nhau, thơm mùi dầu xanh Singapo của cô tôi.

Chúng tôi xách giỏ ra trước cổng chờ xe, sương khuya làm tôi tỉnh mỉnh, thấy dễ chịu sao đâu với không khí tinh khôi lúc nửa đêm, trong ánh đèn đường dịu dàng tỏa tròn nơi chị em tôi đứng, trời khuya dường như cũng thu lại tỏa tròn lấy chị em tôi, êm ả và thương mến.

Nhà nội tôi lưng chừng dốc, vừa nghe thấy tiếng động cơ là xe đã ló đầu, anh tôi mở rộng cửa cho hai chị em lên cabin, bác già lái phụ đang cầm lái, chừng ra đến xa lộ anh tôi mới đổi tài.

Giờ nhớ lại tôi những muốn không một chi tiết nào hồi đó bị bỏ qua, đó là thời kỳ đầu khi tôi về với quê hương bản quán, không thể nói là dễ dàng, mắc trở địa lý thôi cũng đã là gian nan cho hai nửa ruột rà, người trở về từ Bắc dù muốn dù không cũng không thể còn nguyên như hồi chưa rời xứ, đừng nói như lứa bọn tôi, sinh ra trên đất bắc, hầu như đã hổng chân hoàn toàn.

Truyện Ngàn lẻ một đêm có câu “Ở Trung quốc tất cả mọi người đều là người Trung quốc”, không biết đã có ai láy lại câu này để tôi nhớ, ngày mới về Nam mỗi lần ra chợ hay vào quán ăn tôi cứ tủm tỉm cười một mình vì nhớ đến câu này. Hồi ngoài Bắc tôi chỉ nghe giọng Nam bộ trong gia đình, thỉnh thoảng lắm ở Hội Đồng hương, giọng Nam bộ giữa Hà nội bao giờ nghe cũng ấm áp hơn giọng Bắc, bởi hầu như người Nam bộ nào ở đó cũng là ruột thịt của chúng tôi, luôn trìu mến thương yêu. Về Nam thì giọng Nam bộ đã là vô vàn cung bậc, xã giao, dữ tợn, ghẻ lạnh, vồn vã…nhưng trong gia đình giọng Nam bộ vẫn nguyên vẹn ấm áp, nhất là ở quê. Giọng các cô tôi ai cũng êm ru, nhất là những câu gọi “con à” “ nhen con”  luôn khiến tôi rùn lòng, để tôi đoan chắc tôi là của nơi này.

Giọng anh Bảy tôi cũng vậy, nhẹ và êm ru, với mấy đứa em thì có chút cười cười, anh Bảy tôi nhỏ thó, nhưng có gì như khí phách giang hồ náu trong vẻ nhẫn nại đường dài làm anh chừng như kỳ vĩ với con mắt của tôi, và tình ruột thịt làm tôi hãnh diện là em anh, tôi nhớ là tôi hãnh diện biết mấy khi thấy bác tài phụ, hơn anh nhiều tuổi lắm mà răm rắp tuân lời anh. Cũng như vẻ nể trọng của những chủ quán cà phê, quán bánh ú, bánh canh … anh Bảy cho tụi tôi ghé vào dọc đường.

Lần nào đi anh Bảy tôi cũng dừng lại ở từng ấy điểm, tuần tự, xe rời thị xã một đỗi là ghé quán cà phê – là quán ruột của anh Bảy, chủ quán ngó anh thân thiết như nguời nhà mà không cần vồn vã mời chào.Tôi vô quán, ngồi trên cái ghế sắt lểnh khểnh, nhìn ông chủ quán nhấc cái bình cà phê trên đám than hoa rót vô mấy ly xây chừng, là thứ ly thủy tinh có bọt, in mấy chấm bi xanh đỏ quê mùa, cà phê pha vợt rót ra từ bình sắt …vậy mà miếng cà phê sóng sánh trong cái ly ấp lọt bàn tay đó ngon thế, nhấp nhè nhẹ từng ngụm rồi tôi phải kiềm chế lắm để không le lưỡi liếm cho nốt cái vị đắng ngọt ngào như thể đêm đen đọng lại.

Tôi nhớ là cà phê và hơi than ngàn ngạt làm tôi nhớ Hà nội, nhớ và khoan khóai với cả thực tại và kí ức, như từng lớp từng lớp áo mỏng trùm ấm trong se lạnh nửa khuya.

(Ký ức bật tắt bằng những cảm thức bất chợt, một ánh phập phừng của lò than lôi cái tinh mơ Hà nội đến đây, cái quán cà phê dọc đường khuya nơi miền Đông Nam bộ này, và rồi ký ức lại len lén đến với tôi trong ánh nhìn nghiêng gương mặt anh tôi, dầu tấm áo dài nâu và tiếng tụng kinh đều đều nhẫn nại trùm lấp mất anh Bảy tôi lúc này)

Ngồi chống cằm trên cái mặt bàn bằng tôn lành lạnh tôi nghe anh Bảy nói chuyện với bác tài phụ , phong thái anh tôi thật khác biệt, vẻ khác biệt không hề là vẻ người trên – dù anh tôi là chủ xe, bác tài phụ là người …phụ tài cho anh- chỉ là sự từng trải hơn náu đâu đó trong giọng nói êm ru, trong điệu cười rung rung hàng ria mép.

Có một cái gì đó rất đặc trưng của dân tài xế Nam bộ ở anh, nó là cái gì? Tôi chịu.Không biết. Không phải cái mũ phớt có từ thời đánh xe thổ mộ, cũng không phải điếu thuốc dính trễ tràng trên mép của bất cứ thầy thợ nào nơi tỉnh lẻ, anh tôi đẹp trai, một vẻ play-boy với cái nghĩa ngang tàng và dễ dãi, ánh nhìn trìu mến có chút giễu cợt luôn mang cho mấy đứa em chúng tôi cảm giác được bảo bọc, khi anh lái xe hay khi ngồi trong quán, uống hết ly xây chừng . Ờ có lẽ chính là cái vẻ bảo bọc với mọi người, với mấy đứa em và kể cả với bác già phụ lái, anh tôi cho tôi cái ý niệm về bổn phận bảo bọc mọi người...

còn miếng cà phê chót ly đây bác ;)

Gần hai mươi năm sau, cô tôi vẫn còn trụ lại quê, giữ ngôi nhà của ông bà, lúc đó bà nội tôi mới mất, kinh tế gia đình theo thời cuộc đã hư hao, cây xăng cũng lay lắt, nghe nói anh Bảy tôi sa dần vào chiếu rượu, một lần hiếm hoi tôi về quê – bằng xe đò, chắc vậy- gặp anh tôi điếng người, khuôn mặt anh đầy vết găm mảnh đạn, một bên mặt xanh lè vì nám thuốc súng, anh đi đục trái pháo lấy thuốc súng, rồi trái nổ, cũng may gặp trái pháo lép hư sao đó mà anh tôi còn toàn mạng. Suốt dọc đường về tôi cứ nghĩ đến gương mặt nát vết đạn của anh tôi, mí mặt nặng nề buông sụp, dường như không còn chút dấu vết nào của anh Bảy. Cũng như cái xe xăng dềnh dàng hàng tuần anh lái, giờ nằm im lìm trong ga ra, anh tôi giờ ngồi im lìm trên cái ghế đúc trước nhà nội tôi, áo sơ mi tay để lòng thòng, không buồn xăn. Anh thêm vào bày con đông đúc một bé gái nữa. Tôi không biết với cái cầm chừng của cây xăng anh có đủ đặng nuôi mấy đứa nhỏ không, anh em gặp nhau anh vẫn cười cười, nhưng cái cười đã trượt khỏi gương mặt anh, rất nhanh.

Tôi cố giỡn “chừng nào mình đi xe xăng xuống Sài gòn nữa anh? Em thèm bánh ú Gò Dầu quá à” Anh Bảy bập bập điếu thuốc, lơ đãng”ờ ha, chừng nào đi anh mua cho…”

Rồi cô tôi xuống Sài gòn, nhà cửa bán, cây xăng cũng không còn. Bên nội tôi hầu như xuống hết Sài gòn, anh Bảy tôi thì không. Vợ chồng anh vẫn ở lại thị xã , các cháu tôi đã lớn, cũng đã kiếm sống được và lo cho anh chị. Cũng có nghe anh đã quy y, mà tu tại gia.

Hai mươi năm sau, cô tôi nay về với ông bà, và tôi gặp lại anh Bảy tôi vậy đó. Xong bài kinh sớm anh em tôi ngồi ngòai rạp, bên mấy cái bàn mặt tôn lành lạnh . Anh em tôi không uống cà phê, chỉ mấy chung trà bắc, giờ thì trà bắc đã quen thuộc với dân Sài gòn. Anh tôi đội cái mũ ni, gương mặt anh héo quắt song dường như nụ cười bảo bọc ngày xưa đã trở lại, nói chuyện với tôi tay anh vẫn đều đều lần tràng hạt, anh vẫn đang đọc bài kinh nào trong tâm, cho cô tôi, cho chúng tôi, những đứa em đã mất vẻ ngơ ngác mà háo hức ngày nào.

11 nhận xét:

  1. Dư vị đọng lại sau en tri này chẳng khác mấy dư vị của 1 ly ca phê cực ngon: Là hình ảnh bác tầy tu!
    Tiếc là chẳng dốc ngược ly lên được, :)

    Trả lờiXóa
  2. Sorry viết ẩu: "bác thầy tu" (đínhchính)

    Trả lờiXóa
  3. Đọc thấy bao nhiêu thương mến, chị viết bài này dùng nhiều từ của Nam bộ, chắc trong ấy nói "bảo bọc" chứ không phải "bao bọc".

    “Ở Trung quốc tất cả mọi người đều là người Trung quốc” câu quote này nghe vừa quen vừa hay :P

    Trả lờiXóa
  4. ôi ôi, chị So của ngày xưa xinh đẹp không kém ngày nay :D

    Trả lờiXóa
  5. Nặc danh: mời bác dốc nốt ly cafe nửa khuya ;))
    HY: đúng rồi, dân Nam bộ nói bảo bọc, mà nghe "ấm" hơn bao bọc đúng không ? ;)
    marcus: phải chị So không ;))

    Trả lờiXóa
  6. tình cảm và hay quá! Làm em nhớ suốt quãng thời gian ở chùa trong Nam, em thích nghe các sư trong Nam tụng kinh, nghe hay và mê lắm! (Z)

    Trả lờiXóa
  7. Cỏ đâu? Còn không mau.

    Ở Việt Nam không phải tất cả mọi người đều là người Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  8. Chia sẻ tâm sự của chị. Ảnh chị So giống đặc gái Nam.

    Trả lờiXóa
  9. Z: Các sư trong Nam tụng kinh theo hơi vọng cổ,
    Còn sư ngòai bắc theo hơi chèo. Đều rất diễn cảm.
    Khuê Việt:
    -Cỏ đi xem phim gồi :)
    -Ở ngòai VN không phải tất cả mọi người là người VN => tính xác thực cao hơn nhá :))
    Nkd: hề hề, chị So đích thực là gái Nam mừ.

    Trả lờiXóa
  10. Xinh quá chị ạ :) Em nhớ hơi đêm lạnh lạnh phả vào mặt khi nào bước xuống khỏi xe đường dài, cà phê nóng đắng ngọt sánh như đêm đúng là nhất. :)

    Trả lờiXóa
  11. ko phải chị So, là Diu, mọi người chả biết gì! hừm!

    Trả lờiXóa