Thứ Bảy, 17 tháng 4, 2010

Té ra mô hình lý tưởng đã có rồi

Đọc được cái này của bác Đòan Tiểu Long bên talawas thực là thú vị, chép ra đây để lưu

(hề hề talawas lâu lâu cũng có cái đọc được)

Thời buổi này, chắc hẳn rất ít ai tin vào tính hiệu quả của nền kinh tế XHCN, nhất là sau sự sụp đổ của mô hình kinh tế Liên Xô. Cho nên người ta có lý do để nghi ngờ cái ý tưởng xây dựng một “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Quả thực, đọc qua vô số bài viết xung quanh vấn đề, thế nào là một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, người đọc vẫn rất khó hình dung ra nó một cách rõ ràng[1].

Bởi thế, hẳn ít ai có thể nảy ra ý nghĩ là mô hình nền kinh tế XHCN đã hiện diện cả trăm năm nay, ngay trong lòng chế độ tư bản. Đó là mô hình hoạt động của các trường đại học tư nhân phi lợi nhuận, kiểu như Đại học Harvard.

Thế nào là một nền kinh tế XHCN?

Marx viết rất nhiều về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN), và trái lại, viết rất ít về phương thức sản xuất tương lai, cái phương thức sẽ thay thế chế độ tư bản hiện tồn. Như Engels nói, viết càng chi tiết về xã hội tương lai thì chỉ tổ càng rơi vào không tưởng. Ngắn gọn, theo học thuyết Marx, phương thức sản xuất TBCN được đặc trưng, phân biệt với các phương thức sản xuất khác bởi hai điểm căn bản sau đây:

  1. Phương thức sản xuất dựa trên sự tư hữu tư liệu sản xuất và chế độ lao động làm thuê một cách phổ biến.
  2. Phương thức phân phối: giai cấp lao động nhận được tiền công (hình thái biến tướng của giá trị sức lao động); giai cấp tư sản nhận được lợi nhuận; giai cấp địa chủ nhận được địa tô. Địa tô và lợi nhuận là từ giá trị thặng dư mà ra.

Còn phương thức sản xuất XHCN, về mặt lý thuyết, được đặc trưng bởi những nét chủ chốt nhất sau:

  1. Phương thức sản xuất dựa trên sự công hữu về tư liệu sản xuất. Không còn chế độ làm thuê; tất cả đều là những người lao động tự do, nhưng không phải là những người lao động tự do riêng lẻ, cạnh tranh lẫn nhau như trước kia, mà là những người lao động tự do đã liên hiệp lại.
  2. Phương thức phân phối: tổng sản phẩm xã hội, sau khi dành một phần để bù lại những tư liệu sản xuất đã hao phí và mở rộng sản xuất, một phần cho vào quỹ dự trữ, một phần để duy trì bộ máy nhà nước, nuôi những người không có khả năng lao động, xây dựng các công trình công ích v.v…, phần còn lại thì chia cho mỗi người lao động theo phần đóng góp của người đó cho xã hội.

Nhiều người nghĩ rằng nền kinh tế XHCN là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi hoạt động kinh tế đều được hoạch định từ một cơ quan chỉ huy ở trung ương: sản xuất cái gì, bao nhiêu, như thế nào, giá bao nhiêu; phân phối ra làm sao. Tuy nhiên, nền kinh tế có kế hoạch trong học thuyết Marx không có nghĩa như thế.

Trong nền kinh tế TBCN có một mâu thuẫn rất lớn là mâu thuẫn giữa tính có kế hoạch, có tổ chức chặt chẽ ở từng doanh nghiệp, tức là ở cấp vi mô, với tính vô tổ chức, vô kế hoạch ở tầm vĩ mô toàn xã hội. Đây là hệ quả tất yếu của một mâu thuẫn khác, là mâu thuẫn giữa tính xã hội ngày càng cao của nền sản xuất, với tính chất tư hữu của tư bản. Tính chất tư hữu của tư bản đã đẻ ra sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, từ đó dẫn đến tính vô kế hoạch, vô tổ chức của nền sản xuất xã hội.

Lấy ví dụ thế này. Nói chung các doanh nghiệp trong Hiệp hội phân bón Việt Nam đều biết khá chính xác nhu cầu của nông nghiệp Việt Nam về phân bón là bao nhiêu tấn mỗi loại. Tuy nhiên, không ai trong số họ biết chính xác các doanh nghiệp khác sẽ nhập khẩu về và tung ra thị trường bao nhiêu tấn. Mang tiếng là cùng một Hiệp hội thật đấy, nhưng họ luôn thi hành chủ trương “4 giấu” – giấu nguồn cung, số lượng, giá cả, thời gian nhập hàng; không những thế còn làm đủ trò tung hỏa mù để hại đội bạn. Rút cục là thị trường phân bón Việt Nam luôn trong tình trạng bất ổn – lúc sốt nóng, khi sốt lạnh, biểu hiện tính vô kế hoạch của nền sản xuất.

Dưới phương thức sản xuất XHCN, do không còn tính chất tư hữu của tư bản nên cũng không còn cạnh tranh vì lợi nhuận giữa các doanh nghiệp. Đã biến mất các ông chủ của các doanh nghiệp phân bón, những người trong đầu chỉ nghĩ đến lợi nhuận, ngoài mặt thì vồ vập bắt chân bắt tay nhau, nhưng trong bụng thầm cầu cho bọn kia phá sản cả nút. Các doanh nghiệp giờ đây thuộc về những người lao động (số này bao gồm cả giám đốc, cán bộ quản lý, kỹ sư v.v…, chứ không phải chỉ gồm những người lao động cấp thấp – nhiều người rất hay hiểu sai về khái niệm “người lao động”). Những người lao động này liên hiệp lại trong Hiệp hội phân bón – lúc này mới là Hiệp hội đúng nghĩa. Họ phân công nhau sản xuất theo đúng nhu cầu của xã hội. Sản xuất loại phân nào, số lượng bao nhiêu, vào lúc nào v.v… thì không do một nhúm chuyên gia quan liêu ngồi ở Cục trồng trọt Bộ Nông nghiệp, hay Vụ phân bón thuộc Bộ Công thương, hay Ban vật tư của Bộ Kế hoạch ngồi tính tính toán toán rồi ra chỉ tiêu pháp lệnh, bất kể tình hình thực tế ra sao. Việc sản xuất được tiến hành dựa trên nhu cầu thực tế, do thông tin từ các đơn vị nông nghiệp báo lên (thực ra số liệu về nhu cầu thì ngay hiện nay các doanh nghiệp cũng đã nắm được tương đối chính xác; cái khiến họ đau đầu không phải là số liệu về cầu, mà là về cung). Không còn nạn lúc thừa lúc thiếu nữa; các nguồn lực được sử dụng một cách tối ưu. Mở rộng ra cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế, ta sẽ có bức tranh của nền kinh tế có kế hoạch. Nó khác hẳn với mô hình nền kinh tế tập trung, chỉ huy, quan liêu. Bởi thế, những phê phán nhằm vào nền kinh tế tập trung quan liêu, ví dụ như của F. Hayek, thì chẳng liên quan gì đến nền kinh tế có kế hoạch đúng nghĩa marxist.

Kinh tế có kế hoạch chỉ khả thi trong điều kiện của phương thức sản xuất XHCN. Nó không thể tồn tại trong phương thức sản xuất TBCN ở tầm toàn xã hội. Nếu nền kinh tế có kế hoạch xuất hiện thì không phải vì ai đó cho rằng có kế hoạch thì tốt hơn không có kế hoạch, rằng kinh tế có kế hoạch sẽ giúp giải quyết các vấn đề của nền kinh tế TBCN. Nó xuất hiện được, chỉ vì phương thức sản xuất thay đổi tận gốc rễ đã tạo ra những điều kiện mới khiến việc nó xuất hiện trở thành một điều hết sức tự nhiên.

Một ngộ nhận khác: do ảnh hưởng của mô hình kinh tế tập trung, chỉ huy của Liên Xô mà người ta hay đồng nhất kinh tế XHCN với sự thống trị của khu vực kinh tế Nhà nước. Điều này không có gì chung với học thuyết Marx. Marx không bao giờ nói rằng trong chế độ cộng sản chủ nghĩa thì nền kinh tế phải nằm trong tay Nhà nước, bị Nhà nước hóa. Trong các trước tác của mình, Marx chỉ dùng khái niệm “xã hội hóa” để đối lập với tư hữu hóa, chứ Marx không nói đến “Nhà nước hóa”. Tức là tư liệu sản xuất không còn thuộc quyền tư hữu của những cá nhân, mà thuộc về xã hội, gồm những người lao động tự do đã liên hiệp lại, như ví dụ về các doanh nghiệp phân bón phía trên.

Trong tác phẩm Chống Dühring Engels từng nhấn mạnh rằng quốc hữu hóa hoàn toàn không đồng nghĩa với chủ nghĩa xã hội. Tuyên ngôn Đảng cộng sản cũng nói rõ, trong giai đoạn đầu của cách mạng vô sản, nếu chế độ sản xuất phải tập trung vào tay Nhà nước, thì đó chỉ là biện pháp tạm thời, chỉ là thủ đoạn không thể thiếu để đảo lộn toàn bộ phương thức sản xuất. Biện pháp này về mặt kinh tế thì dường như không đầy đủ và không có hiệu lực, nhưng sau này các biện pháp đó sẽ vượt qua bản thân chúng, Nhà nước sẽ trả lại chức năng sản xuất cho xã hội.

Nói chung, việc Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế thì không phải là một đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, và mức độ can thiệp của Nhà nước không nói lên mức độ “xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế. Như Trần Hải Hạc đã chỉ ra, ngay trong phạm vi của chủ nghĩa tư bản, việc nền kinh tế chịu sự điều tiết của thị trường và đồng thời của Nhà nước, thì chỉ là hai mặt có quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau của cùng một thể thống nhất[2].

Xem xét mô hình hoạt động của Đại học Harvard

Nắm được các đặc điểm căn bản của phương thức sản xuất TBCN và XHCN rồi, bây giờ ta thử đối chiếu với hoạt động của Đại học Harvard xem sao.

Nước Mỹ có các trường đại học vì lợi nhuận và đại học không vì lợi nhuận. Harvard thuộc loại thứ hai.

Trường đại học không vì lợi nhuận không có nghĩa là trường đó không quan tâm đến hiệu quả kinh doanh, đến lợi nhuận. Phi lợi nhuận ở đây có nghĩa là lợi nhuận từ hoạt động của trường thì không được chia cho bất kỳ ai dưới dạng cổ tức như các doanh nghiệp thông thường khác, mà toàn bộ thuộc về nhà trường, dùng để nâng cấp cơ sở vật chất của trường, cũng như tiền lương cho cán bộ, nhân viên.

Những trường đại học kiểu này dĩ nhiên không từ trên trời rơi xuống. Thoạt tiên vẫn phải có ai đó bỏ vốn ra thành lập, tuy nhiên những người này chỉ được coi là sáng lập viên, chứ không phải cổ đông sáng lập. Họ có thể được ghi tên trên bảng vàng danh dự của trường, nhưng không bao giờ được nhận một đồng cổ tức nào tương ứng với số vốn góp của mình. Nhờ vậy mà các trường kiểu này được một số ưu đãi của Nhà nước, về thuế má chẳng hạn.

Xét về mặt quan hệ sở hữu, ở đây hoàn toàn vắng bóng sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Toàn bộ cơ sở vật chất của trường không thuộc về một hay nhiều cá nhân với tư cách cổ đông – chủ sở hữu, mà là tài sản của trường với tư cách một pháp nhân độc lập. Những người lao động trong trường, từ bà giám đốc đến ông bảo vệ, đều có quyền sử dụng cơ sở vật chất đó, nhưng không ai có quyền sở hữu. Vậy đây là cái gì, nếu không phải là chế độ công hữu đối với tư liệu sản xuất – một nét đặc trưng của chủ nghĩa xã hội?

Nhưng chỉ dựa trên quan hệ sở hữu không thôi thì vẫn chưa xác định chính xác được đó là nền kinh tế kiểu gì. Ta hãy xét đến phương thức sản xuất của nó.

Trên hình thức thì các cán bộ, nhân viên của trường làm việc theo hợp đồng lao động, tức là làm thuê. Nhưng tính chất của sự làm thuê này khác hẳn sự làm thuê ở các doanh nghiệp bình thường. Ở đây không có một ông chủ đứng ra thuê mướn lao động để chiếm đoạt giá trị thặng dư do người lao động tạo ra dưới hình thái lợi nhuận. Ở đây, những người lao động, từ giám đốc tới người bảo vệ, ký hợp đồng với trường (dĩ nhiên do ai đó làm đại diện theo pháp luật). Người lao động làm việc cho trường chứ không phải cho một ông chủ nào hết. Như vậy ở đây không tồn tại quan hệ lao động làm thuê giữa chủ tư bản và người lao động. Chỉ có những người lao động quan hệ với nhau mà thôi. Thành thử, quan hệ sản xuất đã hoàn toàn mất đi tính chất tư bản chủ nghĩa.

Thế vẫn chưa đủ. Ta xét tiếp tới quan hệ phân phối. Lợi nhuận do hoạt động kinh doanh của trường mang lại không được chia cho các cổ đông – chủ sở hữu theo tỷ lệ vốn góp. Vậy ở đây hoàn toàn vắng bóng quan hệ phân phối tư bản chủ nghĩa đặc thù.

Doanh thu do hoạt động kinh doanh mang lại, một phần dùng để bù đắp sự hao hụt của cơ sở vật chất; phần khác dùng để phát triển, mở rộng cơ sở vật chất đó và dùng làm quỹ dự trữ, quỹ phúc lợi chung. Phần còn lại được chia cho người lao động trong trường theo công sức đóng góp của họ, dĩ nhiên dưới hình thái tiền lương. Giám đốc, giáo sư được coi là đóng góp nhiều hơn thì nhận nhiều hơn nhân viên bình thường. Vậy đó là cái gì, nếu không phải là phương thức phân phối XHCN “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” mà Marx đã nêu ra trong bản Phê phán cương lĩnh Gotha nổi tiếng?

Cuối cùng, hoạt động của trường chắc chắn là hoạt động có tổ chức, có kế hoạch. Đồng thời tính có kế hoạch ở đây không thể hiện ở chỗ mọi hoạt động của trường, từ lớn đến bé, đều do Ban giám đốc hoạch định một cách hết sức chi tiết, cứng nhắc, và giao xuống cho toàn thể các giáo sư, nhân viên răm rắp thực hiện, từ việc dạy cái gì, dạy bao nhiêu, dạy ra làm sao, mua sắm thêm trang thiết bị gì v.v… (giống mô hình kế hoạch hóa tập trung, chỉ huy, mệnh lệnh). Những cái đó thuộc trách nhiệm và quyền tự chủ của các khoa, các giáo sư, giảng viên, nhân viên. Những người này lên kế hoạch công tác của mình; tất cả các kế hoạch nhỏ đó hợp lại thành kế hoạch chung của trường. Ban lãnh đạo nhà trường chỉ có nhiệm vụ điều phối các hoạt động mà thôi. Vậy đó là cái gì, nếu không phải là nền kinh tế có kế hoạch?

Trong một ngôi trường như vậy, hiển nhiên mọi người lao động đều làm việc với một tinh thần rất khác với khi họ làm thuê cho một ông chủ tư nhân. Họ ý thức rằng thành quả lao động của cá nhân họ nói riêng và của tập thể người lao động nói chung sẽ không bị ai đó chiếm đoạt, đút túi để thành triệu phú, tỷ phú và được nêu tên trong danh sách 500 của Forbes. Họ làm việc càng tốt thì cơ sở vật chất của trường càng khang trang, thu nhập của họ càng cao, trường càng có danh tiếng và họ được thơm lây. Họ nỗ lực hết sức mình, làm việc với ý thức cao nhất mà chẳng cần ai nhắc nhở. Thỉnh thoảng họ được nhận bằng khen “For excellent performance – Vì thành tích xuất sắc”. Vậy đó là cái gì, nếu không phải là tinh thần làm chủ tập thể và tinh thần thi đua XHCN?

Dĩ nhiên Harvard tồn tại không chỉ dựa trên nguồn thu từ học phí và các hoạt động kinh doanh khác, mà còn từ các nguồn tài trợ. Tuy nhiên người ta tài trợ cho Harvard chính vì nó làm ăn nghiêm túc, hiệu quả. Ai dám bảo rằng nếu không có chủ sở hữu, nếu để người lao động tự quản lý thì doanh nghiệp sẽ bê bối, phá sản ngay lập tức?

Từ những phân tích trên đây, liệu còn nghi ngại gì nữa mà không tuyên bố: Harvard là mô hình nền kinh tế XHCN, với tinh thần làm chủ tập thể điển hình!

Bác bỏ các định kiến sai lầm

Mô hình Harvard, như một nền kinh tế xã hội thu nhỏ, đã bác bỏ hàng loạt định kiến sai lầm về phương thức sản xuất XHCN. Nó cho thấy:

- Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là hoàn toàn có thể;

- Chế độ lao động làm thuê không phải là một tình trạng tất yếu, tự nhiên, vĩnh viễn;

- Nền kinh tế có kế hoạch là hoàn toàn khả thi;

- Phương thức phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” là hoàn toàn có thể. Hơn nữa, xét về mặt tạo động lực cho người lao động, thì nó ưu việt hơn hẳn so với phương thức phân phối TBCN.

- Chính vì thế, cái quan điểm cho rằng phải có chế độ tư hữu thì mới có động lực phát triển là một quan điểm thiếu xác đáng. Không cần tư hữu doanh nghiệp vẫn có khả năng kinh doanh tốt, và khái quát lên thì xã hội vẫn có thể phát triển tốt.

- Quan điểm cho rằng không thể có tinh thần làm chủ tập thể, cũng như tinh thần thi đua XHCN, vì bản chất con người là ích kỷ, duy lợi, làm chủ tập thể chỉ là cha chung không ai khóc, cũng hoàn toàn sai lầm.

- Những quan điểm mang tính ý thức hệ kể trên, như Marx chỉ ra, là sản phẩm của ý thức xã hội ở một trình độ phát triển nhất định, trong những điều kiện lịch sử nhất định. Trong điều kiện của phương thức sản xuất TBCN, khi con người ta bị cầm tù trong ý thức hệ tư sản, thì việc có quan điểm như thế là một điều hoàn toàn tự nhiên. Không có quan điểm như thế mới là chuyện lạ!

- Trước đây các giáo trình về chủ nghĩa Marx-Lenin từng cho rằng, khác với phương thức sản xuất TBCN vốn nảy sinh ngay trong lòng chế độ phong kiến, phương thức sản xuất XHCN không thể nảy sinh trong lòng chế độ tư bản, vì thế nhất thiết phải làm cách mạng vô sản lật đổ sự thống trị của tư bản, sau đó mới bắt đầu xây dựng quan hệ sản xuất XHCN. Mô hình Harvard cho thấy điều ngược lại: mầm mống của phương thức sản xuất XHCN đã tồn tại ngay trong lòng nước Mỹ từ hàng trăm năm nay, và vẫn đang chứng tỏ sức sống của nó.

- Nếu mô hình Harvard được nhân rộng, nếu như ngày càng xuất hiện nhiều hơn những doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực, tại đó không còn đám cổ đông tham lam suốt ngày nhăm nhe đòi chia cổ tức, chỉ có những người lao động làm việc hết sức mình và cùng chia sẻ thành quả lao động, thì đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chứ không phải cái gì khác. Đến khi trong xã hội chỉ còn toàn những doanh nghiệp kiểu đó, do tính ưu việt của mình nên đã từng bước loại bỏ được các doanh nghiệp hoạt động theo nguyên tắc TBCN (như mô hình Harvard trong cuộc cạnh tranh với các trường đại học vì lợi nhuận, tức là các trường hoạt động theo cơ chế TBCN), khi đó ta sẽ có nền kinh tế thị trường XHCN. Lúc này chẳng còn giai cấp tư sản lẫn vô sản, chỉ còn những người lao động. Kinh tế thị trường định hướng XHCN, như thế, hoàn toàn không phải là một khái niệm quá ư phi lý. Đây có thể là con đường phương thức sản xuất TBCN tự phủ định mình và bị thay thế dần dần bởi phương thức sản xuất ưu việt hơn một cách hòa bình, không cần tới các cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt.

- Cuối cùng, khi các doanh nghiệp không còn cạnh tranh với nhau nữa mà liên hiệp lại vì lợi ích chung ở quy mô toàn xã hội, lúc đó ta sẽ có phương thức sản xuất XHCN hoàn chỉnh. Không còn tính tư hữu, không còn tình trạng cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, hàng hóa tự dưng mất đi các thuộc tính như giá trị, giá trị trao đổi, giá cả, lợi nhuận, và cùng với chúng là sức mạnh thần bí đã thống trị tư duy con người hàng ngàn năm. Sản phẩm của lao động chấm dứt tồn tại với tư cách hàng hóa. Con người lần đầu tiên thoát khỏi “sự sùng bái hàng hóa” – sự sùng bái từng được Marx mổ xẻ trong một chương nổi tiếng của Tư bản luận.

- Đến một lúc nào đó, sức sản xuất xã hội đã cực kỳ phát triển, trong khi con người ta lại không còn chạy theo các giá trị vật chất nữa, chỉ tiêu dùng vừa phải, do đó thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra các vật phẩm tiêu dùng rút ngắn lại còn rất ít, phần lớn thời gian là dành cho các hoạt động tinh thần theo kiểu “sáng đi làm độ 2 tiếng đồng hồ, sau đó đi câu, chiều đi chơi tennis, tối nghiên cứu triết học và tập thiền” (hình dung của Marx trong Hệ tư tưởng Đức), khi đó nhân loại có thể viết lên lá cờ của mình khẩu hiệu “mỗi người làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, như Marx đã viết một cách hào hùng trong Phê phán cương lĩnh Gotha hơn một thế kỷ trước đây. Nó có gì là quá ư viển vông, không tưởng không nhỉ?

- Cũng cần lưu ý, không phải sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tự khắc dẫn tới việc giải phóng sức lao động con người, giảm giờ làm tăng giờ nghỉ của người lao động. Các chủ tư bản cải tiến kỹ thuật là nhằm mục đích giảm chi phí, tăng lợi nhuận, chứ không phải vì muốn giảm bớt thời gian lao động của người lao động. Nếu năng suất máy móc tăng gấp đôi thì sẽ có một nửa số người lao động bị sa thải, số còn lại tiếp tục làm việc với thời gian như cũ, và nơm nớp lo sợ thất nghiệp. Trong lịch sử, quá trình rút ngắn ngày lao động từ 90 – 100 giờ / tuần xuống còn 35 giờ / tuần hoàn toàn là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp lao động và giai cấp tư bản. Chỉ khi phương thức sản xuất thay đổi thì cải tiến kỹ thuật mới có tác dụng giảm thời gian lao động của người lao động đến mức tối thiểu mà vẫn đáp ứng mọi nhu cầu.

- Ai đó có thể hỏi: khi nào mới “xuất hiện ngày càng nhiều những doanh nghiệp kiểu Harvard”? Ai là người chịu từ bỏ sở hữu của mình, biến nó thành sở hữu công cộng? Câu trả lời là: ngay bây giờ chứ đâu. Sự hiện diện ngày càng đông các tổ chức, doanh nghiệp phi lợi nhuận cho thấy đây là một khả năng có thực. Dĩ nhiên sự vận động của xã hội là một quá trình phức tạp, kết quả của sự tương tác của vô vàn yếu tố, trong đó có rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên, hoặc có vẻ ngẫu nhiên, và câu hỏi đến khi nào thì số lượng các doanh nghiệp kiểu XHCN sẽ chiếm đa số, rồi tuyệt đại đa số, hiển nhiên không thể trả lời bằng cách đoán mò, và thực ra cũng không cần trả lời.

Về khẩu hiệu “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”

Khẩu hiệu này, được Marx đưa ra trong Phê phán cương lĩnh Gotha, có lẽ là khẩu hiệu gây hoài nghi nhất, kể cả trong phe anti- lẫn phe pro-Marx. Mới đây, trung tướng Đặng Quốc Bảo, một người có thể coi là người cộng sản vừa kiên định vừa không bảo thủ, giáo điều, và từng nghiên cứu CN Marx kỹ càng, cũng tỏ ra nghi ngờ tính khả thi của khẩu hiệu này nói riêng và CNCS nói chung. Đây là một đề tài thú vị, đáng để ta bàn luận một chút.

Lập luận của những người cho rằng khẩu hiệu “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” của chủ nghĩa cộng sản là hết sức vớ vẩn thường chỉ loanh quanh thế này: năng lực sản xuất của con người có hạn trong khi nhu cầu là vô hạn, rằng chả ai thích lao động cả, chỉ thích ăn chơi, lấy đâu ra cái xã hội gồm toàn những con người toàn hảo thế để xây dựng chủ nghĩa cộng sản?

Từ quan điểm duy vật marxist mà xét, lý lẽ này xuất phát từ não trạng của con người sống trong phương thức sản xuất TBCN, khi người lao động coi lao động là cái gì đó thù địch, và họ chỉ mơ không phải làm gì mà vẫn được ăn chơi xả láng, đúng kiểu “nhà giàu tham việc, thất nghiệp tham ăn”. Nền sản xuất TBCN tạo ra một núi hàng hóa, nhưng phương thức phân phối TBCN lại kìm hãm sức tiêu dùng của đại đa số người lao động. Tổng nhu cầu có khả năng thanh toán của họ luôn nhỏ hơn nhiều so với tổng giá trị của đống hàng hóa khổng lồ do chính họ sản xuất ra, dẫn đến kết quả tất yếu là khủng hoảng thừa. Sức tiêu dùng bị kìm hãm đến lượt mình quay trở lại kìm hãm nền sản xuất, khiến nền sản xuất không thể phát huy toàn bộ năng lực của mình mà không rơi vào khủng hoảng. Đây là mâu thuẫn chí tử của phương thức sản xuất TBCN: mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Nó là nguyên nhân gốc rễ của mọi cuộc khủng hoảng, kể cả cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, chứ đâu phải vì mấy quỹ đầu tư quá tham lam hay Nhà nước buông lỏng kiểm soát hệ thống tài chính, ngân hàng. Khủng hoảng thừa khiến cuộc cạnh tranh giữa các nhà tư bản trở nên gay gắt tột độ, và họ buộc phải dùng mọi chiêu thức kích thích sự thèm khát vật chất của con người, nhằm mục đích tối hậu là bán được hàng. Thành thử con người thời đại này mới luôn thèm khát vật chất, tưởng tượng rằng nhu cầu con người là “vô hạn độ”, rằng nếu được “hưởng theo nhu cầu” thì họ sẽ ăn cho vỡ bụng, sẽ tha về nhà trăm cái ti vi, chục cái xe hơi. Có đúng vậy không?

Theo quan điểm duy vật thì khi nền sản xuất phát triển, xã hội phát triển, thì ý thức con người cũng phát triển theo. Người dân các nước Bắc Âu chẳng hạn tiêu dùng tiết kiệm hơn nhiều so với dân Việt Nam nghèo đói. Chỉ cần dự các bữa tiệc buffet ta sẽ thấy điều này rất rõ. Tiệc buffet là loại tiệc rất hay, nó xóa nhòa mọi khác biệt về thu nhập: tại đó, tỷ phú hay người dân thường, sau khi trả một số tiền nhất định, đôi khi miễn phí, đều có quyền ăn uống “theo nhu cầu”. Thế là, có những người khoái quá, múc lấy múc để, đĩa nào đĩa nấy đầy tú hụ, chỉ hận bụng mình không to bằng bụng voi. Rồi để thừa để mứa trông phát tởm. Những người này thể hiện não trạng của kẻ bị các mối lo về miếng cơm manh áo ám ảnh, hệt như nhân vật trong truyện ngắn “Tình yêu cuộc sống” của Jack London. Ngược lại, những người đã có cuộc sống sung túc thì lấy lượng thức ăn rất vừa phải, chỉ đủ dùng mà thôi. Vật chất quyết định ý thức là thế.

Vả chăng, trái với sự lầm tưởng của nhiều người rằng “nhu cầu con người là vô hạn, sản xuất không thể đáp ứng”, nhu cầu của con người tuy phát triển vô tận về chất, nhưng không vô hạn, mà hữu hạn về lượng. Thịt bò càng ngày càng ngon, nhưng người ta cũng chỉ ăn một hai lạng mỗi bữa. Chiếc xe hơi có thể được cải tiến đến vô tận, nhưng mỗi gia đình dù sao cũng chỉ cần một hai cái, chứ chả ai tha về nhà tới chục cái lận. Ở đây người ta thường lẫn lộn giữa “lòng ham muốn” với “nhu cầu thực” của con người. Lòng ham muốn thì có thể là vô hạn, nhất là ở con người TBCN, nhưng nhu cầu thực thì luôn hữu hạn về lượng. Trong khẩu hiệu nói trên Marx đang nói tới nhu cầu thực của con người, chứ làm gì có chuyện dở hơi đến độ dụ khị dân chúng rằng “cứ theo chúng tôi đi, chúng tôi sẽ dẫn các bạn đến một nơi rất hoành tráng, ở đó các bạn khỏi cần làm việc mà vẫn được ăn chơi xả láng tùy theo ý muốn!” Chỉ những người có não trạng “đói nghèo” mới nhanh nhẩu suy diễn câu nói của Marx như thế.

Tuy rằng mệnh đề “ham muốn của con người là vô hạn, còn nguồn lực thì hữu hạn” được ghi trong mọi cuốn giáo trình Kinh tế học, nhưng bản thân các nhà kinh tế học, cũng như các chủ doanh nghiệp, lại không bao giờ buồn để ý đến cái vế thứ nhất của mệnh đề đó. Đối tượng nghiên cứu của họ bao giờ cũng là nhu cầu thực, và không chỉ nhu cầu thực chung chung, mà là nhu cầu có khả năng thanh toán. Không nhà sản xuất xe hơi nào khi bước vào thị trường Việt Nam lại bắt đầu việc lên kế hoạch kinh doanh của mình bằng giả định rằng nhu cầu xe hơi ở Việt Nam là vô hạn, hay khiêm tốn hơn thì là 20 triệu chiếc / năm (mỗi gia đình mong muốn có một chiếc, và mỗi năm lại thay xe mới). Họ biết rõ nhu cầu có khả năng thanh toán đối với hạng mục xe hơi chỉ vào khoảng hai trăm ngàn chiếc mỗi năm mà thôi. Với sức sản xuất hiện nay, bản thân nền sản xuất ở các nước TBCN phát triển thừa sức đáp ứng mọi nhu cầu hợp lý của mọi thành viên trong xã hội, tuy nhiên phương thức phân phối TBCN đã cản trở điều đó. Để tiêu thụ hàng hóa, các chủ tư bản phải dụ người dân mua chịu, vay nợ, điều đó giúp kinh tế bớt trì trệ chút ít trong hiện tại, nhưng cũng là tích tụ tai họa cho tương lai, kiểu gì cũng sẽ dẫn tới khủng hoảng. Giải pháp “cầu hữu hiệu” của J. Keynes thực tế là một mưu toan giải quyết mâu thuẫn này, nhưng dĩ nhiên chỉ có thể giảm bớt phần nào mức độ khốc liệt của từng cuộc khủng hoảng mà thôi.

Với sức sản xuất như hiện nay, chỉ cần thay đổi phương thức phân phối thôi, tức là không chia cổ tức cho cổ đông theo phần vốn sở hữu, mà chia hết cho người lao động theo công đóng góp, thì thu nhập của từng người lao động sẽ lập tức tăng lên vài lần, kéo theo sức mua có khả năng thanh toán lên tương ứng. Khủng hoảng thừa bị triệt tiêu, còn nhu cầu của các thành viên xã hội được đáp ứng tối đa trong phạm vi sức sản xuất hiện thời.

Trong phương thức sản xuất tương lai, sức sản xuất cao gấp nhiều lần hiện nay, việc đáp ứng nhu cầu vật chất càng đơn giản hơn. Nhưng không phải chỉ có thế mà đã có thể “hưởng theo nhu cầu” được. Còn vấn đề ý thức con người nữa.

Chắc hẳn sẽ có người đặt câu hỏi kiểu như: thế nếu ai cũng muốn đi xe Roll-Royce, ở biệt thự có toilet dát vàng, mũi đeo kim cương rốn khảm hồng ngọc, vân vân, thì xã hội làm sao đáp ứng? Người đặt câu hỏi kiểu này cho thấy họ vẫn đang bị não trạng “sùng bái vật chất” chi phối, vẫn cứ nghĩ rằng ở thời đại nào, trong điều kiện lịch sử nào, con người ta cũng như nhau, cũng có những sự thèm khát vật chất đó. Họ không hiểu rằng, sự thèm khát vật chất chỉ là tầng thấp nhất trong tháp nhu cầu của con người, rằng sẽ đến lúc con người ta tự thấy việc tiêu dùng vô độ, lấy xe hơi, nhà cửa, vàng bạc kim cương ra để khoe khoang đúng là trò dở hơi. Xã hội sẽ chỉ đáp ứng những nhu cầu hợp lý của các thành viên, và bản thân các thành viên tự quyết định thế nào là hợp lý, phù hợp với sức sản xuất của xã hội, với mục tiêu bảo vệ môi trường, vân vân. Khi ý thức đã phát triển, con người ta sẽ tự hạn chế tiêu dùng ở mức vừa phải, do đó tuy sức sản xuất xã hội rất cao nhưng quy mô nền sản xuất xã hội lại không nhất thiết phải phình ra vô hạn độ, phung phí tài nguyên, hủy hoại môi trường nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận như dưới thời CNTB, mà trái lại, có thể thu hẹp đáng kể. Đó là lý do vì sao trong tương lai thời gian lao động cần thiết có thể rút ngắn chỉ còn 1-2 giờ đồng hồ mỗi ngày mà vẫn đảm bảo “hưởng theo nhu cầu”, đồng thời tránh được nhiều vấn nạn môi trường đang khiến nhân loại đau đầu. Ai đau đầu thì mặc kệ, chứ đố bảo được các ông chủ tư bản tự nguyện thu hẹp sản xuất đấy!

Tóm lại, tổng hợp các yếu tố: 1) sức sản xuất rất phát triển; 2) phương thức sản xuất và phân phối thay đổi; 3) ý thức con người thay đổi -, thì việc đáp ứng nhu cầu vật chất của con người chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ ngồi trong giỏ.

Cũng phải nói luôn: nhu cầu được đáp ứng ở đây chỉ là các nhu cầu vật chất. Còn vô số nhu cầu tinh thần khác nữa mà mỗi người phải tự phấn đấu để thỏa mãn, ví dụ như nhu cầu hiểu biết, khám phá, sáng tạo… Đó là những động lực để con người phát triển bản thân, phát triển xã hội. Cái ý nghĩ rằng khi nhu cầu được thỏa mãn thì con người ta không còn động lực phát triển (ông Đặng Quốc Bảo cũng nghĩ vậy) rõ ràng là rất thiếu xác đáng. Riêng điều này thì khỏi cần chờ tới thời CNCS, mà có thể lấy ngay lịch sử phát triển của nhân loại làm minh chứng. Trong lịch sử, hầu hết các phát minh, sáng chế, các tác phẩm nghệ thuật, các tư tưởng v.v…, những thứ làm nên sự phát triển của xã hội loài người, đều do tầng lớp đã được đảm bảo về các nhu cầu vật chất tạo ra: giới quý tộc, trí thức tư sản v.v… Chỉ một tầng lớp nhỏ mà đã khiến xã hội phát triển như vậy, thì trong tương lai, khi mọi thành viên xã hội đều được giải phóng mọi năng lực của mình, lúc đó xã hội sẽ còn phát triển đến mức nào nữa!

Dĩ nhiên những điều trình bày sơ sài trên đây chỉ là giả thuyết về một khả năng, một con đường phát triển của xã hội trong vô số những khả năng khác. Khả năng có trở thành hiện thực hay không thì chỉ có thực tiễn mới đưa ra câu trả lời.

Nói thêm vài lời về vấn đề “làm chủ tập thể”

Tại Việt Nam cũng như các nước XHCN khác, tinh thần làm chủ tập thể là cái được nói đến rất nhiều, và cũng là cái ít được thực thi nhất, ít được tin tưởng nhất.

Từ quan điểm duy vật marxist mà xét, điều đó hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Tinh thần làm chủ tập thể là cái không thể tạo ra chỉ bằng giáo dục, tuyên truyền suông. Nó chỉ có thể nảy sinh trong những điều kiện nhất định. Cũng như mọi thứ ý thức, tư tưởng khác, tinh thần làm chủ tập thể là sản phẩm của sự phát triển của hạ tầng kinh tế, của các quan hệ sản xuất. Chừng nào con người ta chưa cảm thấy mình làm chủ thực sự, chừng nào còn thấy thành quả lao động của mình không thuộc về mình mà thuộc về ai đó khác, chừng đó người ta còn thấy lao động là thứ gì đó xa lạ, nô dịch, thù địch, và dĩ nhiên chừng đó không thể nói gì về tinh thần làm chủ tập thể được.

Những người nông dân trong các hợp tác xã, hay những công nhân viên trong các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, hoàn toàn không thấy mình làm chủ gì ở đây. Làm việc tốt hay kém thì thu nhập của họ vẫn thế, mà thường là rất tệ. Họ chẳng có quyền tham gia điều hành hợp tác xã, doanh nghiệp. Họ chẳng có quyền tham gia phân phối thành quả lao động của mình, được cho bao nhiêu thì biết bấy nhiêu. Trước đây họ thậm chí không có cả quyền lựa chọn nơi làm việc – tất cả là do Nhà nước “phân công công tác”. Trong điều kiện nền sản xuất kém phát triển, cách thức phân phối thiếu công bằng, thu nhập của người lao động thậm chí còn không đủ tái sản xuất sức lao động ở mức độ tối thiểu, chưa nói đến việc phải nuôi vợ con, cha mẹ, càng không nói đến chuyện tích lũy. Trong hoàn cảnh đó giáo dục tinh thần làm chủ tập thể cho người lao động là chuyện viển vông. Người ta trở nên chây lười, buộc phải ăn cắp, tham ô, phải chân trong chân ngoài. Không thể trách cứ họ được. Khẩu hiệu “muốn xây dựng CNXH, cần có con người mới XHCN”, xét từ quan điểm marxist, là khẩu hiệu rất duy tâm, và thực tế đã chứng tỏ điều đó. Làm sao có thể xây dựng con người XHCN trước, rồi mới xây dựng chính CNXH được?! Chỉ trong quá trình xã hội biến chuyển dần dần, từng bước xây dựng CNXH, thì con người ta mới biến đổi theo và biến thành con người XHCN lúc nào không biết.

Ở Việt Nam, tư tưởng “làm chủ tập thể” thường được gắn với tên tuổi cố Tổng bí thư Lê Duẩn. Sự thất bại của mô hình hợp tác xã, sự yếu kém của các doanh nghiệp quốc doanh, thái độ quan liêu của công chức Nhà nước, tất cả những cái đó cho đến tận giờ đã khiến người ta mất niềm tin vào tư tưởng “làm chủ tập thể” của ông.

Tuy nhiên cá nhân người viết bài này không nghĩ rằng một nhà hoạt động tầm cỡ như cố Tổng bí thư Lê Duẩn, dù từng mắc nhiều sai lầm đi chăng nữa, lại có thể hiểu vấn đề “làm chủ tập thể” một cách đơn giản, thô sơ, duy ý chí như thế được.

Trước đây giáo sư Tương Lai có viết một bài tưởng nhớ cố Tổng bí thư Lê Duẩn, trong đó giáo sư kể lại chuyện một đôi lần được Tổng bí thư gọi đến để nghe ông nói về vấn đề làm chủ tập thể, và yêu cầu giáo sư ghi lại các suy nghĩ của ông. Tổng bí thư tỏ ra không hài lòng khi thấy người ta hiểu sai hoàn toàn về tư tưởng của ông. Hơi tiếc là trong bài đó giáo sư Tương Lai chỉ viết lại sơ lược một số ý Tổng bí thư nói về vấn đề này; thành ra người đọc chỉ có thể đoán rằng cố Tổng bí thư suy ngẫm về vấn đề đó hết sức sâu sắc, và người bình thường chưa chắc đã lĩnh hội được ngay.

Giá mà biết rõ được thì hay quá!

8 nhận xét:

  1. Các bác lãnh đạo còn không tin làm sao biểu dân đen tin :D Nhưng mà bác tác giả thật tài, em bị thuyết phục, nhưng em vẫn ko tin em sống được đến khi ấy mà xem XHCN tưoi đẹp. Em nghĩ em sẽ thấy chúng mình được lèo lái vòng trở lại với TBCN đồi bại trước đã hihi

    Trả lờiXóa
  2. co ve bai phan tich hay ve mat ly luan nhung thuc te da chung minh chu nghia Marx la sai lam vi rang con nguoi co nhung nhu cau va kha nang lao dong khac nhau. XIn hoi tac gia da tung song o chau Au chua, dac biet la cac nuoc Bac Au?
    Tac gia noi ve dai hoc Harvard thi co dan chung gi khong? va da nghien cuu no bao lau roi?

    Trả lờiXóa
  3. em cũng cứng đầu, không tin hề hề

    Trả lờiXóa
  4. L'amante inchevée: thế là em lạc quan lắm rồi :))
    Càfê sữa: sao lại không tin? nói có sách mách có chứng thế kia mà...;)
    Bác Nặc danh: bác có thể gửi câu hỏi cho tác giả Đòan Tiểu long qua talawas, trang nhà của bác ấy.

    Trả lờiXóa
  5. vì em muốn là một đứa con nít, cực kỳ lạc quan.

    Trả lờiXóa
  6. Em đọc qua qua nhưng thấy bài này vớ vẩn, ngụy biện quá. Hơn nữa. Hơn nữa, chỉ riêng chi tiết này tuy không sai nhưng cũng có phần đánh đồng:
    "Nước Mỹ có các trường đại học vì lợi nhuận và đại học không vì lợi nhuận. Harvard thuộc loại thứ hai."
    Gần như toàn bộ các trường ĐH ở Mỹ đều không vì lợi nhuận. Ở các nước Tây Âu cũng vậy. Lấy lĩnh vực giáo dục là một lĩnh vực đặc thù rồi để nói đó là tổ chức XHCN thì thật là nực cười. Thế thì thay vì chọn Harvard làm case study để chứng minh Harvard là XHCN thì sao không lấy quách một tổ chức NGO bất kỳ cũng phi lợi nhuận để bảo nó là XHCN?

    Mô hình người lao động quản lý nhà máy thì người ta áp dụng từ xưa rồi, cụ thể là ở Nam Tư thời Tito. Hiệu quả của mô hình đó như thế nào thì cũng dễ biết thôi.

    Nhiều luận điểm trong bài cũng thiếu chặt chẽ và có thể dễ dàng bẻ lại nhưng mà làm thế chẳng để làm gì.

    Trả lờiXóa
  7. Linh: dĩ nhiên là ngụy biện rồi, nhưng đọc vui đấy chứ, nhất là trong cái xóm talawas sặc mùi thuốc súng!
    Vả lại mình thích cái lối mô tả kiểu "mô hình" Ặc, vậy mà các bác bên talawas tranh luận ra trò

    Trả lờiXóa
  8. Em cũng thích bài này, mặc dù đoạn sau sau gần về cuối nó cứ đuối đuối thế nào ấy :D.

    Trả lờiXóa