Nhớ đến những ngày ở Hà nội thời thơ ấu tôi luôn mường tượng tới vẻ thanh bình có phần tù đọng, vẻ thanh bình nhỏ bé như đường phố hẹp đựng vừa vặn gọn gàng một tiếng guốc gõ ..cùng lắm thêm một tiếng rao đêm, nó nguy hiểm như cái lồng chật hẹp mà tao nhã, luôn luôn ta có thể thu xếp để vừa vặn trong đó và khó đi đến chút phân vân muốn thoát ra, có thể mường tượng điều này trong căn hộ tập thể nhà tôi cũng như rất nhiều nếu không muốn nói là hầu hết người Hà nội hồi ấy: một tấm phản gỗ tạp làm giường cho cả ba mẹ con, dưới gầm giường là toàn bộ bát đĩa nồi niêu cộng thêm cái bếp dầu hôi, một cái hòm đạn dùng đựng quần áo và một bộ bàn ghế ba tôi đóng lấy cũng bằng gỗ hòm đạn .
Đêm đêm khi đi ngủ chị tôi rải lần lượt những cái áo măng tô của má tôi xuống làm nệm (những cái áo măng tô điệu đàng của Sài gòn bà ngoại tôi cụ bị cho má tôi đi tập kết!), tôi nằm xuống cho chị đắp một số cái áo khác lên, trên cùng mới là cái chăn bông chần vải xanh…, rồi chị tôi khéo léo trườn vào giữa mấy lớp chăn –áo ấy ôm lấy tôi … má tôi quấn một cái chăn dạ, ngồi chấm bài cho đến nửa đêm rồi cũng chui vào đống chăn áo ấm sực cùng hai cô con gái , chúng tôi chống cự với cái rét ngọt miền Bắc như vậy đó.
Chẳng hề rên xiết cơ cực gì, tôi hoàn toàn yên trí với một cuốn Truyện Cổ Gờ rim dày sụ, quanh năm mặc quần áo thải của chị tôi, đồ lót thì má tôi may lấy cho cả ba mẹ con, là cựu nữ sinh Gia long bà được học nữ công gia chánh khá cơ bản nên rất kinh sợ loại áo lót thời ấy của đồng bào Hà nội, không tài nào hiểu nổi vì cớ gì mà nó được chần dày đến thế, nhọn hoắt đến thế !!!!
Cái ăn cũng thế, sự lần hồi chắt mót cho bữa ăn là chuyện thường xuyên, đã từng sống trong chiến khu má tôi rất khéo léo chế biến những thứ linh tinh thành món bổ dưỡng cho chúng tôi, chúng tôi đã từng ăn dế, ăn châu chấu, ốc sên, thịt ngựa (tôi nhớ con ngựa đó bị sa xuống giếng hồi nước lụt ở Bắc cầu- một nơi sơ tán- người ta xẻ thịt và hình như cả khu tập thể giáo viên chỉ má tôi dám mua về, hầm đu đủ thành món ragu thịt ngựa rất ngon)
Những cố gắng xoay xở để vừa vặn với cái eo hẹp của cuộc sống khiến chúng tôi luôn tìm được những thú vui nho nhỏ, một miếng ốc sên giòn sần sật hay một đôi tất tự tạo từ hai cái ống tay áo lòe xòe của Sài gòn mốt (má tôi đem theo ra bắc) cũng khiến chúng tôi hí hửng. Sách truyện, phim …là những bù đắp được ba má tôi coi là hiển nhiên cho chúng tôi càng khiến cho cuộc sống thêm êm ả, chúng tôi nhúc nhích ít thôi để ôm lấy nhau chặt hơn, gìn giữ hơi ấm (cái hơi ấm đương nhiên ấy từ mỗi người trong gia đình có lẽ là thứ tài sản duy nhất mà chúng tôi hết sức giữ gìn)
Có hôm xem phim về khuya cả nhà tôi đi trong tiếng xạc xào lá rụng, tôi nghe như ba má tôi cùng thở dài, dường như đã vĩnh viễn không còn hy vọng gì thoát khỏi tiếng lá rụng trong heo may, quê nhà đã như biền biệt …
Ba má tôi mất quá sớm, lúc tôi chưa đủ câu hỏi cho những tư lự bây giờ, tôi không biết đích xác các cụ nghĩ gì khi sống và làm việc như sự hiển nhiên thế ấy trên đất bắc. Cũng như má tôi ba tôi xuất thân không thường dân tí nào, đừng nói là phó, thế nhưng ông cùng các anh em trong nhà đều vào chiến khu và rồi tập kết ra bắc, chắc chắn ông không đi tìm danh lợi, dáng bộ thư sinh nho nhã ông chỉ ưa thích chuyện văn thơ nhạc họa, thích làm kỹ thuật thuần túy (ông là kỹ sư xây dựng, phục vụ trong công binh quận đội NDVN)
Một năm có lẽ ông chỉ được gần vợ con chừng một tuần, từ chiến trường khu 4 ông lần mò về những làng quê mà má con tôi sơ tán, xách một tấm tăng ra trải ở bờ tre, một ấm trà quạu , hai cô con gái lăng xăng và một ông bác hoặc ông chú nào đó ghé qua, gật gù ngồi đọc thơ bên cạnh, những lúc ấy ông hầu như không nói, mắt nheo nheo trong nắng mùa đông, thảng hoặc ông lầm rầm một câu thơ nào đó, bây giờ mường tượng lại tôi nghĩ chắc đó là câu thơ nao lòng thương nhớ nhất mà tôi biết “gì sâu bằng những trưa thương nhớ, hiu quạnh bên trong một giọng hò….”
Về Ba tôi có lẽ tôi sẽ giành một chương, một chương rất nhiều hoài nghi và đau đớn …
Dân miền Nam tập kết hầu như đều từng ở chiến khu, thậm chí từng ở nhà tù đế quốc, thế nên cuộc sống thiếu thốn vất vả không thành vấn đề, nhất là đối với các phó thường dân Nam bộ, dù kiểu phó thường dân không phải là bẩm sinh như ba tôi. Phẩm chất đẹp đẽ nhất ở họ là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng tạo được những niềm vui thấm đượm yêu thương, tôi nhớ những lần tụ họp đồng hương , tìm được thứ rau gì, gia vị gì có hơi hướm quê nhà là các cô bác tôi mừng lắm, những món ăn Nam bộ : bánh xèo, bánh khọt, canh chua , cháo vịt…. dĩ nhiên là những hạnh phúc không nhỏ tí nào. Hồi ấy tôi có bà dì vượt tuyến ra đem theo mấy hũ mắm cái, hũ mắm lập tức được chia sớt chi li từng muỗng, và rồi nhìn má tôi nhắm mắt hít hà thì biết chắc bà muốn đánh đổi mấy năm tuổi cho một bữa rau sống cuốn bánh tráng măm nêm thịt luộc đúng điệu Sài gòn biết chừng nào.
Nghĩa là má tôi ao ước trở về biết chừng nào….
chưa dám bình luận vì chưa đọc kỹ. Chỉ để comment đây để biết rằng em vẫn đọc những entries của chị và rất thích. Rất muốn đọc tiếp và cùng bình luận
Trả lờiXóaNhớ những ngày xa xứ.
Trả lờiXóaCó những ngày cực khổ, thiếu thốn mới biết lúc đầy đủ. Đây cũng là nguồn gốc của hạnh phúc.
Có vẻ hay dần lên đấy. Hay dần dần hay từ từ?
Trả lờiXóaTặng So tấm hình làm bìa cuốn hồi kí này.
có vẻ mình sắp lây bệnh muốn viết rồi....
Trả lờiXóa